Ba Bể, Chuyến đi đầu tiên

Ấn tượng đầu tiên, chuyến đi đầu tiên lên Ba Bể với tôi mãi là chuyến đi ấn tượng nhất, nhiều trải nghiệm nhất và là Ba Bể đẹp nhất trong tôi.
     Ấn tượng đầu tiên, chuyến đi đầu tiên lên Ba Bể với tôi mãi là chuyến đi ấn tượng nhất, nhiều trải nghiệm nhất và là Ba Bể đẹp nhất trong tôi.
     Tôi đến với Ba Bể lần đầu tiên vào một ngày đầu thu tháng 9, khi cái nắng hạ đã không còn gay gắt, thay vào vào đó là cái nắng vàng ươm đầu thu. Hành trình đường núi với một cô gái lần đâu tiên lên vùng cao có đôi chút không dễ dàng. Qua quốc lộ 13, vùng chè Thái Nguyên, bắt đầu sang địa phận Bắc Kạn, qua thành phố Bắc Kạn nhưng trong với tôi đó mới chỉ như một thị xã nhỏ vùng đồng bằng. Xe ô tô chở tôi cùng 2 người khách Úc bắt đầu đi qua những con đường ngoằn nghèo qua thị trấn Bằng Lũng, chợ Đồn, chợ Mới…đi men theo những con đường ven núi. Cảnh núi non xuất hiện rõ nét hơn, làn khói tỏa theo chiều gió vương vất lưng chừng núi nơi thấp thoáng những bản làng sao mà ấm áp thế. Qua một vài khu nhà dân, một vài điểm trường hay ngước mắt nhìn theo những chú lợn mán cặm cụi trũi đất thấy bình yên đến lạ. Tôi đến với bản Cốc Tộc vào gần cuối buổi chiều. Homestay nơi tôi nghỉ là một gia đình người Tày- Mr.Linh’homestay. Dành chút thời gian cuối buổi chiều để dạo bộ quanh bản. Không giống các bản xung quanh như Pác Ngòi hay Bó Lù nằm ngay bên đường chính, Cốc Tộc nằm không xa đường lớn lắm nhưng đường vào khá ngoằn nghèo nên chỉ có 2 nhà trong bản làm du lịch. Chính vì lẽ đó trong bản không khí trong bản rất rất bình yên. Tôi gặp một vài đứa trẻ đang chơi bóng chuyền rồi tham gia cùng chúng. Trái bóng chuyền tôi không nghĩ có thể gọi đó là bóng chuyền không nhưng nhẹ và dễ chơi với tôi và bọn trẻ. Trời nhá nhèm tối, về lại Mr.Linh’s homestay dùng bữa cơm. Tôi không nhớ chính xác bữa tối hôm đó có những món gì, nhưng thật sự không thể quên món gà đồi nướng, hoa chuối nộm và món tép nướng que tre (cá hồ nhỏ người dân nơi đây gọi là tép) uống cùng rượu ngô vị dịu nhẹ và ấm lòng như chính tấm lòng của người dân vùng sơn cước.

Tối, 9h, tất cả các nhà trong bản đều đã tắt đèn. Không gian tĩnh mịch có đôi chút se lạnh của buổi tối nơi núi rừng, tiếng lanh canh từ chiếc lục lạc của những chú dê trong chuồng, ngồi một mình trên chiếc chòi gỗ, thả hồn vào bầu trời đầy sao hay đọc một cuốn sách, nghe chút nhạc du dương để thật sự cảm nhận chút tĩnh lặng giữa cuộc sống.

Sáng, tôi dậy sớm một chút, nhâm nhi tách cà phê nóng, ổ bánh mì thơm phức và vài chiếc pancake cùng chút mật ong vàng óng ngồi cảm nhận nét tinh khôi, trong trẻo của buổi sớm với mây núi quyện hòa, lắng nghe âm thanh của tiếng gõ thuyền bắt cá của cư dân địa phương từ xa vọng lại. Tôi chuẩn chút đồ ăn picnic, nước, giày, mũ leo núi, sẵn sàng cho một ngày leo núi đến thăm những bản làng xa xôi, hẻo lánh nhất của Vườn Quốc Gia Ba Bể.

Hành trình khám phá nơi hẻo lánh nhất của núi rừng Ba Bể bắt đầu. Qua bản Cốc Tộc, qua những con suối, những cánh đồng nơi người dân đang tranh thủ cấy cày, một vài thanh niên đang hứng khởi làm lại con mương dẫn nước. Quả núi  đầu tiên leo khá dốc, rồi 1, 2 quả đồi tiếp theo đường đi có thoải hơn chút nhưng không phải là dễ dàng. Đoàn tôi men theo những đường mòn ven núi, theo chân 1 đoàn các chị đi lên nương về, hay gặp một vài đứa trẻ đi lấy củi, một vài người đang lùa trâu lên rẫy, một vài câu chào, một vài cái bắt tay hay thậm chí còn nhận được vài lời mời vào thăm nhà, uống nước. Đoàn tôi vào thăm nhà một người Mông vừa đi chợ về, mấy đứa trẻ bẽn lẽn ra đưa ghế, quạt cho chúng tôi. Nhà có 2 buồng ngủ, 1 gian bếp và một góc gác đầy ngô. Anh chị hỏi chúng tôi đi đâu đó, rồi chia sẻ đôi chút về cuộc sống, cuộc nói chuyện ngắn ngủi nhưng cảm giác như những người đã quen thân đến chơi nhà nhau vậy. Tiếp tục hành trình, qua một vài bản của người Mông, Dao. Đường leo núi vất vả nhưng thật sự rất đáng. Những khi dừng chân tại một mỏm đá trong rừng hay bất chợt ngoảnh lại nhìn những ngọn đồi núi mình đã đi qua, hay những khi lên tới đỉnh núi, ngắm nhìn cảnh vật xung quanh với thấp thoáng những nếp nhà sàn, những nương ngô, ruộng bậc thang, nghe tiếng lục lạc của đàn trâu bò đang gặm cỏ, thấy bao la núi non hùng vĩ, một cảm giác yêu Việt Nam đến lạ. Tôi đã hiểu ra tại sao đồng bào nơi đây cuộc sống tuy rất vất vả nhưng không thể nào xa được núi rừng quê hương.


Chiều, đoàn tôi gặp 5,7 thanh niên bản đang hò nhau kéo những cột điện mang điện lưới quốc gia về bản. 16h30 đoàn tôi đến được với gia đình người Dao Tiền, nơi chúng tôi sẽ nghỉ đêm. Bữa tối ấm cúng với chén rượu ngô, các sản vật của núi rừng như: măng, gà đồi, hoa chuối, cá hồ nướng. Màn đêm buông xuống tĩnh mịch với tiếng côn trùng kêu, bầu trời đêm rộng lớn với muôn vàn ánh sao. Tuyệt diệu.

Sáng, đoàn tôi ghé thăm trường bản. Ngôi trường nhỏ với 5 phòng học, mỗi phòng được tận dụng làm 2 lớp, 2 chiếc bảng 2 đầu với vài bộ bàn ghế ở giữa. Nhìn lên góc bảng: sĩ số: 7, vắng:0, thấy vui vui. Ra chơi, nô đùa cùng các bé, nói chyện hỏi về ước mơ, kể về thủ đô cho các em, đứa nào cũng chăm chú nghe rồi hẹn một ngày được gặp chị tại Hà Nội.

Chia tay ngôi trường bản nhỏ xinh, gia đình người Dao nồng hậu, tiếp tục xách ba lô lên và đi. Băng qua một vài ngọn đèo, gặp một chú bé người Mông với chiếc xe máy tự chế bằng tre, tự nô đùa đầy thích thú, có khi vượt qua chúng tôi rồi dừng chân đâu đó với lũ bạn đang chăn trâu, rồi đột nhiên lại nghe tiếng lóc cóc từ phía sau, vẫn chú bé đó. Nhìn dáng người mảnh khảnh, đôi chân tí xíu với nước da rám nắng, chạy băng băng qua những con đường đèo đầy nắng thấy yêu con người nơi đây đến lạ.


Gần trưa, chúng tôi đã nghe có tiếng thác đổ ào ào. Ngồi xuồng băng qua sông, đi bộ qua rừng khoảng 10 phút, chúng tôi đã đến với thác Đầu Đẳng, điểm cuối của sông Năng, nơi toàn bộ nước của hồ Ba Bể chảy về. Thác là nguồn cung cấp nước chính cho thủy điện Na Hang- Tuyên Quang, là nơi giáp ranh giữa Bắc Kạn và Tuyên Quang.

Ăn trưa tại một nhà hàng ven hồ. Chiều, ngồi xuồng nghỉ chân, lặng ngắm vẻ đẹp của hồ Ba Bể. Ngược dòng sông Năng, thăm động Puông, rồi quay ngược lại về hồ. Ba Bể dần hiện ra dưới ánh mặt trời rực rỡ. Trời xanh, nước biếc,  núi non xung quanh bốn bề, tất cả chúng tôi lặng đi, ngắm nhìn vẻ đẹp tuyệt vời của viên ngọc xanh giữa núi rừng Việt Bắc. Hồ rộng mênh mang, sóng nước mây trời. Không còn gì hạnh phúc hơn sau gần 2 ngày leo núi, được thư thái giữa bốn bề sóng nước, thăm đền An Mạ, đảo Bà Góa rồi ngụp lặn trong lòng hồ trong mát.

Sáng hôm sau, xe chở chúng tôi trên con đường đèo vòng quanh hồ Ba Bể, tranh thủ ngắm nhìn khung cảnh bình yên nơi đây. Qua khu vực Quảng Khê, thăm động Hua Mạ với hàng nghìn những măng nhũ đá, tự hỏi sao thiên nhiên có thể kì diệu đến thế.

Trở về đến Hà Nội vào cuối giờ chiều. Trở về với đường phố tấp nập nơi mình vẫn sống và làm việc nhưng sao thấy có chút lạc lõng dường như đã xa nơi này từ rất rất lâu rồi. Tạm biệt Ba Bể, tạm biệt núi rừng, bản làng và con người nơi ấy, tôi về với cuộc sống thường nhật, hẹn ngày quay lại. Nhất định thế.